*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Luận án


  •  (2020)

  • Nghiên cứu này đã được thực hiện trên số lượng mẫu lớn của người dân tộc Kinh trưởng thành, là dân tộc chiếm đa số của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu góp phần đưa ra hằng số chỉ số nhân trắc của người dân tộc Kinh đại diện cho người Việt Nam. Kết quả cũng cho thấy các giá trị trung bình khác biệt với một số chủng tộc khác trên thế giới. Nghiên cứu sử dụng phần mềm VnCeph của Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt phát triển có nhiều ưu điểm và có giá trị ứng dụng cao trong nghiên cứu cũng như trong thực hành lâm sàng.

  • Luận án


  •  (2020)

  • Thai phụ bị đái tháo đường (ĐTĐ) trong thai kỳ có HbA1C ≥ 6% làm tăng nguy cơ bị PĐCT ở thai nhi và với giá trị HbA1C tăng từ trên 6,1% có khả năng dự báo xuất hiện PĐCT ở thai nhi có mẹ bị ĐTĐ trong thai kỳ. Bên cạnh đó, mẹ bị ĐTĐ kèm theo béo phì, tăng cân trên chuẩn trong thai kỳ, thai “lớn hơn tuổi thai” cũng tăng nguy cơ bị PĐCT ở thai nhi và tình trạng PĐCT này có thể làm tăng nguy cơ sinh thiếu tháng, sinh nhẹ cân, điểm Apgar phút thứ 1 thấp ≤ 7 ở thai nhi này so với nhóm không bị PĐCT.

  • Luận án


  •  (2020)

  • Nghiên cứu bước đầu xác định được tỉ lệ trầm cảm sau sinh ở phụ nữ nhiễm HIV tại Việt Nam; chứng minh sự cần thiết đề ra chiến lược dự phòng, sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm trầm cảm trong công tác sản khoa đối với phụ nữ nhiễm HIV. Nghiên cứu xác định được ba đặc điểm chung ở hai nhóm phụ nữ nhiễm HIV và không nhiễm HIV có liên quan với trầm cảm sau sinh, đó là sự ổn định nghề nghiệp, sức khỏe của con và mối quan hệ vợ chồng của đối tượng nghiên cứu. Đây là các yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của người phụ nữ Việt Nam.

  • Luận án


  •  (2020)

  • Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện trên 451 bệnh nhân phẫu thuật tim tại Viện Tim TP. Hồ Chí Minh và bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 09/2015 đến tháng 08/2016 với thời gian theo dõi là 2 năm.1.Tỉ lệ rung nhĩ sau phẫu thuật tim (RNSPTT) là cao: ở phẫu thuật (PT) tim chung là 23,7%, ở nhóm PTgồm: CABG, PT van tim, CABG +PT van tim là 27,2%.2.Thang điểm dự báo rung nhĩ sau phẫu thuật tim (RNSPTT) gồm 3 biến: Tuổi ≥ 60 = 1 điểm, thời gian sóng P ≥ 120 ms = 2 điểm, CABG + PT thay hoặc sửa van 2 lá = 1 điểm. Phạm vi thang điểm từ 0 đến 4 điểm, 0 điểm: Rung nhĩ = 5,6%; 1 điểm: Rung nhĩ = 20%; 2 điểm: Rung nhĩ = 41,4% ; 3 điểm: Rung nhĩ = 60,5%; 4 điểm: Rung nhĩ = 77,8%; ngưỡng ≥ 2 điểm là giá ...

  • Luận án


  •  (2020)

  • Qua nghiên cứu 1846 bệnh nhi đủ tiêu chuẩn giảm bạch cầu hạt trung tính tại 2 bệnh viện Nhi lớn cho thấy: Tỷ lệ giảm bạch cầu hạt trung tính nói chung là 2,25%. Tuy nhiên, tỷ lệ này tại bệnh viện Nhi Trung Ương (4,15%) cao hơn Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng (0,9%). Độ tuổi giảm BCHTT chủ yếu ở trẻ trên 1 tuổi (61,8%). Về giới thì trẻ nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ nam/nữ là 1,5/1. Kết quả phân tích gen của 5 bệnh nhi giảm nặng BCHTT cho thấy 4/5 bệnh nhân có đột biến điểm trên gen ELANE, chỉ có một bệnh nhân đột biến gen HAX1 kiểu dịch khung. Đây cũng là đột biến mới, lần đầu tiên được công bố trên thế giới.

  • Luận án


  •  (2020)

  • Đây là nghiên cứu mô tả, tiến cứu lần đầu tiên thực hiện ở Việt Nam nhằm đánh giá một cách toàn diện về chức năng thị giác, cho phép đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thị giác, từ đó áp dụng một cách phù hợp một số biện pháp thay đổi hành vi nhằm nâng cao chất lượng thị giác. Đối tượng nghiên cứu là sinh viên Công an lần đầu tiên được thực hiện ở Việt Nam. Việc khám tuyển đầu vào các trường Công an là rất chặt chẽ, nhưng chỉ dừng lại ở công tác khám thị lực và khúc xạ. Vì vậy, đánh giá toàn diện về chức năng thị giác bằng các khám nghiệm khác nữa như: thị lực lập thể, sắc giác và thị lực tương phản, đã cho chúng ta thấy có những trường hợp mặc dù thị lực tốt nhưng vẫn rối lo...

  • Luận án


  •  (2020)

  • Đây là nghiên cứu đầu tiên tiến hành đánh giá về kỹ thuật thay van động mạch chủ qua đường ống thông (TAVI) ở bệnh nhân Việt Nam. Nghiên cứu đã mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của các bệnh nhân được tiến hành thủ thuật này. Các phân tích cho thấy tuổi cao, chức năng thất trái EF, giải phẫu van động mạch chủ hai lá van, bệnh lý van tim phối hợp, không phải là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả và tính an toàn của thủ thuật TAVI. Ngược lại, những bệnh nhân có nguy cơ phẫu thuật tính theo điểm STS cao thì tỉ lệ tử vong sau TAVI cũng tăng lên. Đây là cơ sở để lựa chọn các đối tượng phù hợp với kỹ thuật TAVI trong thực hành lâm sàng.