*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2009-05)

  • Trong bài viết này, các tác giả đưa ra phân tích so sánh cập nhật về quá trình hội nhập kinh tế diễn ra ở châu Á và châu Âu; thảo luận về các nguồn gốc lịch sử và xem xét các bài học đối ứng có thể rút ra kinh nghiệm từ hai khu vực này.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2009-04)

  • Việt Nam đã có kinh nghiệm tăng trưởng kinh tế ngoạn mục trong thập kỷ qua, kết quả có được một phần là nhờ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) lớn. Trong bài báo này, tác giả xem xét các hậu quả kinh tế vĩ mô của dòng vốn lớn. Các khía cạnh kinh tế vĩ mô này có thể đặc biệt quan trọng trong các nền kinh tế chuyển tiếp như Việt Nam, nơi một số công cụ ổn định kinh tế vĩ mô có thể bị cùn hoặc không có. Hạn chế này, kết hợp với một hệ thống ngân hàng trẻ và thiếu kinh nghiệm và các doanh nghiệp nhà nước đói đầu tư, làm tăng nguy cơ mất cân đối có thể dẫn đến khủng hoảng.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2009-05)

  • Tác giả cho rằng chủ nghĩa khu vực là một khối xây dựng, không phải là một trở ngại đối với một hệ thống thương mại đa phương, sử dụng phương án tự do hóa dịch vụ của ASEAN (AFAS) như một nghiên cứu điển hình. Để xác định mối quan hệ thích hợp giữa chủ nghĩa đa phương và chủ nghĩa khu vực trong bối cảnh dịch vụ, trong bài viết này, tác giả cũng đề xuất sửa đổi Điều khoản V của Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ GATS.

  • Luận án


  •  (2018)

  • Nghiên cứu, khám phá bản chất của hành vi tẩy chay và các thành phần tác động đến hành vi tẩy chay hàng hóa có xuất xứ TQ của người tiêu dùng Việt Nam và so sánh điểm tương đồng và khác biệt của các thành phần được khám phá với các nghiên cứu trước; đồng thời đề xuất mô hình nghiên cứu và kiểm định các yếu tố tác động đến hành vi tẩy chay.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2011-01)

  • Bài viết này ước tính tác động của chính sách tiền tệ đối với tỷ giá hối đoái và thị trường chứng khoán cho tám nền kinh tế mở nhỏ: Úc, Canada, Hàn Quốc, New Zealand, Vương quốc Anh, Indonesia, Malaysia và Thái Lan. Tính trung bình trên các quốc gia này, tỷ lệ lãi suất chính thức tăng đột biến một phần trăm dẫn đến tỷ lệ hối đoái tăng 1% và chỉ số thị trường chứng khoán giảm 1%. Ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái đáng chú ý là yếu hơn ở các nước không thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) với một phao được quản lý. Đối với các nước OECD, không có bằng chứng rõ ràng về sự thay đổi về hiệu quả của chính sách trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Đối với các nước không thuộc...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2011-01)

  • Bài viết này khảo sát hợp tác kinh tế khu vực ở châu Á-Thái Bình Dương theo của các tài liệu mới về các thể chế quốc tế. Các tính năng nổi bật của các tổ chức khu vực bao gồm việc ra quyết định đồng thuận, hợp tác “nông” và phái đoàn có giới hạn trong thường trực các ban thư ký quốc tế. Bài viết phác thảo các nguồn chính trị của những hạn chế này và xem xét một số đề xuất về cách tăng cường hợp tác, bao gồm nhiều nguồn thông tin độc lập về xu hướng khu vực, giải quyết tranh chấp nâng cao và các dự án phổ biến liên quan đến việc chuyển giao phong phú hơn từ các thành viên nghèo hơn.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-12)

  • Hiệp hội các nước Đông Nam Á gồm 10 thành viên, ASEAN, được cho là một nhóm khu vực bền vững và thành công nhất ở các nước đang phát triển. Được thành lập vào năm 1967, nó đã góp phần rất lớn vào sự hài hòa và thịnh vượng của khu vực. ASEAN được đặc trưng bởi sự đa dạng nội bộ lớn, tăng trưởng kinh tế nói chung cao, và một sự miễn cưỡng để thiết lập một cấu trúc siêu mạnh mẽ. Bắt đầu từ năm 1976 - với năm thành viên ban đầu - ASEAN bắt đầu tiến tới hợp tác và hội nhập kinh tế, ban đầu tập trung vào thương mại hàng hóa. Trong những năm 1990, ASEAN tập trung vào các dịch vụ, đầu tư và lao động. Và trong thập kỷ vừa qua, ASEAN đã mở rộng hợp tác về các vấn đề kinh tế vĩ mô và tài chính, ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-12)

  • Bài viết này điều tra hiệu quả của chính sách tài khóa 05 nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN): Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan. Thông qua mô hình VAR, chi tiêu của chính phủ được cho là có tác động yếu và không đáng kể đến đầu ra, trong khi các loại thuế được tìm thấy có kết quả trái ngược với lý thuyết thông thường. Các phần mở rộng sử dụng mô hình VAR thay đổi theo thời gian cho thấy tác động của thuế đối với đầu ra chủ yếu phản ánh những lo ngại về tài chính công trong bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á và khủng hoảng tài chính toàn cầu gần đây. Mặt khác, đối với Singapore và Thái Lan, có bằng chứng cho thấy chi tiêu của chính phủ đôi khi ...