*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Bài trích


  •  (2020)

  • Sự gia tăng đột biến của lạm phát trong giai đoạn cuối năm 2019 đã dẫn đến một số lo ngại rằng, lạm phát trong năm 2020 có thể sẽ vượt mức mục tiêu đặt ra là 4%. Bài viết này lập luận rằng, tốc độ tăng CPI bình quân năm 2020 vẫn có thể được kiềm chế ở mức dưới 4% nếu Chính phủ bình ổn giá thịt lợn ngay từ đầu năm. Mặc dù vậy, việc đạt được mục tiêu về lạm phát sẽ khó khăn hơn nếu xu hướng tăng của lạm phát cơ bản là bền vững.

  • Bài trích


  •  (2020)

  • Kinh tế Việt Nam giai đoạn 2016-2020 dự kiến sẽ khép lại với nhiều kết quả ấn tượng. Tăng trưởng GDP liên tục đạt mức cao trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu và hầu hết các quốc gia đều chậm lại. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch nhanh với sự đóng góp lớn và ngày càng tăng của khu vực công nghiệp và dịch yụ. Sự phụ thuộc vào tín dụng và khai khoáng cho tăng trưởng giảm dần. Mặc dù vậy, mô hình tăng trưởng chứa có sự thay đổi rõ nét. Tăng trưởng vẫn phụ thuộc vào vốn, khu vực FDI; tính chất gia công còn lớn, hiệu quả sử dụng vốn và năng lực đổi mới sáng tạo thấp. Đây là những điểm yếu cần khắc phục trong giai đoạn mới 2021-2030.

  • Bài trích


  •  (2020-06)

  • Trong các yêu cầu bảo đảm tài chính cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam, bảo đảm vốn đẩu tư vào đóng vai trò quan trọng nhất bởi đây là yếu tố đóng góp trên 50% tăng trưởng GDP thời gian qua khi đứng trên góc độ đóng góp của các yếu tố đầu vào. Bài viết chỉ ra cơ cấu theo những bất cập trong bảo đảm vốn đầu tư, nhất là những bất hợp lý trong nguồn vốn đầu tư và việc sử dụng vốn kém hiệu quả trong giai đoạn 2011 - 2020. Dựa trên mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả và chất lượng cao với các chỉ tiêu tương ứng đặt ra cho giai đoạn chiến lược mới 2021 - 2030, bài viết đã tính toán nhu cầu vốn đầu tư bảo đảm cho đầu tư từ khu vực giai đoạn này với tỷ lệ tích lũy chiếm...

  • Bài trích


  •  (2020-04)

  • Việt Nam sắp kết thúc thời kỳ Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 vởi cả thành công, cơ hội và những thách thức đặt ra. Nhìn lại việc thực hiện Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam đến năm 2020, có thể thấy bên cạnh thành công đáng ghi nhận, còn một mặt hạn chế cần khắc phục. Trong bối cảnh mới, việc đánh giá Chiến lược phát triển khu vực dịch vụ của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 tìm ra những điểm nghẽn và nguyên nhân. Từ đó, xây dựng định hướng Chiến lược phát triển khu vực dịch vụ trong giai đoạn 2021-2030, để làm cơ sở tính toán góp phần vào việc xây dựng Chiến lược tổng thể phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2021-2030.

  • Bài trích


  •  (2020-03)

  • Hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội, qua đó không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thản của nhân dân. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, việc thực hiện tăng trưởrig kinh tế và an sinh xã hội ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế, cần được nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế để có những bước phát triển hơn nữa. Bài viết phân tích quá trình thực hiện tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội của vương quốc Thái Lan, qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc thực hiện tăng trưởng kinh tế và an sinh xã hội thời gian tới.

  • Luận án


  •  (2020)

  • Luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu về tài sản thương hiệu của các siêu thị điện máy dựa trên khách hàng theo quan điểm của Keller (2013, 1993). Quan điểm của Keller (2013, 1993) giải thích về tài sản thương hiệu dưới góc độ khách hàng với những đo lường, đánh giá về thái độ và hành vi của người tiêu dùng. Điều này có thể giúp cho các siêu thị điện máy hiểu hơn về khách hàng mục tiêu của họ thay vì quá tập trung vào các công cụ. Trong các nghiên cứu về tài sản thương hiệu trước đây tại Việt Nam, hầu hết các nghiên cứu đều tiếp cận theo quan điểm của Aaker (1991), vì vậy, việc vận dụng mô hình nghiên cứu theo tiếp cận của Keller (2013, 1993) có thể coi là một đóng góp mới cho nghiên...

  • Bài trích


  •  (2020-02)

  • Trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của Cách mạng còng nghiệp (CMCN) 4.0, thế giới chứng kiến những thay đổi to lớn đối với việc ứng dụng Công nghệ Thông tin và Truyền thông (ICT) vào phát triển kinh tế, làm xuất hiện xu hướng phát triển kinh tế kỹ thuật số. Những yếu tố cốt lõi của Kỹ thuật số trong CMCN 4.0 là: Trí tuệ nhân tạo (AI), Vạn vật kết nối (Internet of Things - IoT), dữ liệu lớn (Big Data), công nghệ điện toán đám mây (Cloud Computing), chuỗi khối (Blockchain),.... Cuối cùng, về lĩnh với vực Vật lý là robot thế hệ mới, in 3D, xe tự lái, công nghệ nano,.... Đồng hành cùng cuộc CMCN 4.0, định hướng phát triển một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số hay còn g...

  • Bài trích


  •  (2020-02)

  • Theo danh mục phân loại các ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ phân phối được xác định bao gồm 5 phân ngành là dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ đại lý uỷ quyền/ uỷ thác, nhượng quyền/ cấp đặc quyền kinh doanh và “lo ại khác”. Khi thực hiện đàm phán, ký kết và thực thi các gói cam kết trong Hiệp định khung về dịch vụ AFAS, Việt Nam đã có những cam kết tự do hóa dịch vụ trong lĩnh vực này. Mặc dù so với một số nước thành viên ASEAN, mức độ mở cửa của Việt Nam là rộng mở nhưng so với cam kết tương tự trong WTO vẫn chưa có sự đột phá sâu sắc nào. Do vậy, vẫn còn trông đợi sự biến chuyển lớn trong hệ thống pháp luật nhằm tạo tiền đề cho việc thực thi cam kết rộng mở hơn để đạt được lợ...

  • Bài trích


  •  (2020-04)

  • Bài viết sử dụng mô hình Working-Leiser và bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình (HGĐ) Việt Nam (VHLSS) năm 2016, để đánh giá mức độ tác động của nhân tố tiền gửi về từ người di cư đến hành vi tiêu dùng của HGĐ ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tuy mức độ tác động không lớn nhưng tiền gửi về có ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng của HGĐ; tiền gửi về đóng góp một tỷ lệ có thể xem xét như một nguồn thu nhập và tác động tích cực đối với đầu tư giáo dục và tài chính HGĐ.