*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-04)

  • Trong bài báo này, tác giả đề nghị rằng việc sử dụng số liệu thống kê thương mại được tính kết hợp với dữ liệu Kinh doanh là hữu ích trong việc hiểu tổng thể cũng như chi tiết thương mại cấp chi tiết. Hai yếu tố này có thể được coi là các chỉ số thay thế về hiệu quả thương mại, bởi vì cả hai chỉ số đều cải thiện khi giao dịch thương mại được sắp xếp hợp lý. Hơn nữa, bằng cách sử dụng thống kê thương mại, các tác giả có thể tính toán không chỉ chi phí thương mại dài hạn mà còn chi phí thương mại cho từng nhóm hàng hóa. Dựa trên chi phí thương mại cấp hàng hóa, các chính sách hỗ trợ thương mại cụ thể hơn nhắm vào các lĩnh vực cụ thể có thể được phát triển.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2013-03)

  • Các nghiên cứu trước đây về tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTA) ở Đông Á đã giả định sử dụng đầy đủ các ưu đãi. Các bằng chứng cho thấy giả định này là sai lầm nghiêm trọng, với ước tính sự hấp thụ đặc biệt thấp ở Đông Á. Bài viết này xem xét các tác động phúc lợi của tự do hóa ưu đãi bằng cách sử dụng tỷ lệ sử dụng thực tế cao hơn, so với các phương pháp phi ưu đãi - đa phương hóa các ưu đãi và tự do hóa toàn cầu, sử dụng mô hình đa quốc gia. Phân tích cho thấy rằng tỷ lệ sử dụng ảnh hưởng đáng kể đến lợi ích từ tự do hóa ưu đãi. Lợi ích từ việc có đi có lại, nhiệm vụ có thể ngăn chặn đa phương hóa, cũng phụ thuộc vào tỷ lệ sử dụng và thấp hơn đáng kể khi sử dụng không ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2013-04)

  • Bài viết này điều tra cách xuất khẩu ảnh hưởng đến đổi mới của các công ty. Tác giả đưa đổi mới vào mô hình không đồng nhất vững chắc với năng suất, trong đó cân bằng mô hình cho thấy rằng các nhà xuất khẩu đầu tư nhiều hơn vào đổi mới, chẳng hạn như nghiên cứu và phát triển (R&D), hơn các nhà không xuất khẩu. Sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp từ Trung Quốc, tác giả áp dụng phương pháp ước tính năng suất của công ty và phương pháp tính toán kinh tế của Levinsohn và Petrin (2003) để kiểm soát tính đồng nhất. Kết quả cho thấy, trung bình, đối lập với các nhà không xuất khẩu, các nhà xuất khẩu tăng cường R&D của họ lên hơn 5%, tăng chi phí R&D lên hơn 33% và có khả năng tham gia vào h...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2013-03)

  • Bài viết này xem xét mức độ hội nhập thương mại dịch vụ ở châu Á so với châu Âu và Bắc Mỹ. Và chỉ ra rằng, -xu hướng khu vực về thương mại dịch vụ của châu Á (liên quan đến hàng hóa) là nổi bật vì hai lý do chính: (i) tỷ lệ tương đối cao của ngôn ngữ được chia sẻ (tiếng Trung), điều cần thiết cho thương mại dịch vụ; và (ii) bản chất quần đảo của khu vực, ngăn cản buôn bán hàng hóa nhiều hơn thương mại dịch vụ.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2013-05)

  • Đã có nhiều sự nhầm lẫn, thay vì tranh luận, về việc sử dụng các hiệp định thương mại tự do (FTA). Thật không may, phần lớn sự nhầm lẫn là do sự thiếu đồng thuận về ý nghĩa của các thuật ngữ chính như “utilization rate”hay “usage rate” của FTA, và thiếu kiến thức về xu hướng lên hoặc xuống từ các nguồn thông tin khác nhau liên quan đến việc sử dụng FTA. Bài viết này xem xét các nghiên cứu hiện có về vấn đề này và nỗ lực xác định các phương pháp luận có liên quan để đánh giá việc sử dụng các FTA.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2013-01)

  • Bài viết đề cập đến vấn đề mức lãi suất của Mỹ gần bằng không khiến cho tiêu chuẩn đô la quốc tế gặp sự cố. Thị trường mới nổi với lãi suất cao hơn tự nhiên tràn ngập với dòng tiền nóng. Các ngân hàng trung ương thị trường mới nổi can thiệp để ngăn chặn tiền tệ của họ tăng nhanh chóng dẫn đến mất quyền kiểm soát tiền tệ và bắt đầu lạm phát. Chính sách lãi suất bằng không cũng không kích thích nền kinh tế Mỹ vì việc trung gian tài chính nội địa của các ngân hàng và các quỹ tương hỗ thị trường tiền tệ bị kìm nén. Bởi vì Trung Quốc buộc phải giữ lãi suất của mình dưới mức bù trừ thị trường, nó cũng bị áp chế tài chính, mặc dù ở một dạng khác với ở Mỹ.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2006-10)

  • Nhiều nhà kinh tế có xu hướng hoài nghi về giá trị của các khu vực tự do thương mại (FTAs) trong khi những người khác ủng hộ với những điều kiện nhất định, đặc biệt khi khu vực tự do thương mại cho phép giải quyết toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến thương mại và đầu tư hơn theo WTO. Bài viết này nỗ lực để thu hẹp phạm vi phân tích này bằng cách phát triển một kế hoạch chi tiết cho chủ nghĩa khu vực tốt nhất dựa trên cách thực hành tốt nhất. Sau đó áp dụng bộ quy tắc liên quan cho FTA hiện tại ở châu Á (cả trong và ngoài khu vực) để đánh giá để đánh giá mức độ mà họ tiếp cận các phương pháp hay nhất. Tóm lại, các tác giả thấy rằng hầu hết các hiệp định đều nhận được điểm cao tro...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-08)

  • Bài viết này xem xét ý nghĩa của việc chia sẻ sản xuất toàn cầu trong hội nhập kinh tế ở Đông Á, nhấn mạnh vào hành vi của dòng chảy thương mại trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008. Trong khi thương mại ở các bộ phận và linh kiện và lắp ráp cuối cùng trong các mạng sản xuất tăng nhanh hơn tổng sản lượng thương mại thế giới, mức độ phụ thuộc của Đông Á vào hình thức chuyên môn quốc tế mới này lớn hơn nhiều so với các nơi khác thế giới. Mạng lưới thương mại đã tăng cường sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa các quốc gia trong khu vực. Tuy nhiên, điều này cũng không làm giảm sự phụ thuộc của sự năng động xuất khẩu của các nước này vào nền kinh tế toàn cầu. Sự gia tăng củ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-06)

  • Bài viết này khám phá cách thức các quy tắc thành viên ảnh hưởng đến khả năng của các tổ chức để thúc đẩy hội nhập khu vực. Bài viết nghiên cứu những lợi thế và bất lợi của các quốc gia so với các quốc gia không trong tổ chức và lợi ích của việc có nhiều tổ chức khu vực dưới dạng hội nhập từng lớp. Bài viết cũng thảo luận các cách để thay đổi tư cách thành viên trong các nỗ lực hợp tác khác nhau ở một tổ chức hiện có. Bài báo kết thúc bằng cách xem xét các tác động cho Châu Á.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-11)

  • Đang có sự phát triển và sôi động của nhiều tổ chức xã hội dân sự (CSOs) ở châu Á thúc đẩy kinh tế, chính trị và xã hội sử dụng ba chiến lược quan trọng, cụ thể là tuyên truyền khu vực, hội nghị xã hội dân sự song song và quan hệ đối tác xã hội dân sự với các bang và các tổ chức khu vực. Mặc dù các tổ chức khu vực đã trở nên sẵn sàng hơn để tham gia vào các nhóm xã hội dân sự và phi dân chủ không ưu tú hoặc cơ sở, các mạng lưới kinh doanh vẫn được đặc quyền trong các quy trình thể chế. Do đó, các tổ chức khu vực không khai thác các nguồn thông tin và kiến thức của các tổ chức xã hội dân sự để nâng cao chất lượng quản trị tổ chức khu vực, được định nghĩa là hiệu quả của các tổ chức quả...