*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Luận án


  •  (2018)

  • Mục tiêu nghiên cứu cụ thể: (1) Xây dựng và ước lượng mô hình tác động lan tỏa của FDI đến năng lực công nghệ (được đại diện bằng năng suất lao động) của doanh nghiệp Việt Nam; (2) Xây dựng và ước lượng mô hình tác động lan tỏa của FDI đến năng lực xuất khẩu (được đại diện bằng khả năng tham gia xuất khẩu và tỷ trọng xuất khẩu) của doanh nghiệp Việt Nam; (3) Xác định các nhân tố ảnh hưởng hiệu ứng lan tỏa công nghệ và xuất khẩu từ FDI đến doanh nghiệp Việt Nam; (4) Phân tích và đánh giá sự khác biệt về hiệu ứng lan tỏa khi sử dụng các thang đo khác nhau đại diện cho FDI; (5) Gợi ý các chính sách nhằm phát huy những hiệu ứng lan tỏa tích cực từ FDI đến các doanh nghiệp trong nước.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-02)

  • Kể từ khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trong năm 2008/09 đã sự mối quan tâm lớn về khả năng phục hồi của các hệ thống ngân hàng ở Đông Nam Á. Bài viết này đề xuất một phương pháp vĩ mô để đánh giá khả năng phục hồi của các hệ thống ngân hàng ở các nước thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Sau đó, nó tiến hành áp dụng phương pháp này để kiểm tra khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng Philippine để nghiên cứu các mối quan hệ năng động tồn tại giữa các chỉ số tài chính và kinh tế vĩ mô. Kết quả cho thấy hệ thống ngân hàng Philippine có một số rủi ro đối với lãi suất và các cú sốc của thị trường chứng khoán. Kết quả của thử nghiệm như vậy cung cấp thông tin tốt hơn về...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-07)

  • Bài báo này sử dụng mô hình trọng lực mở rộng để làm sáng tỏ tác động của hiệp định thương mại tự do giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) về các dòng thương mại và các mô hình thương mại của các thành viên. Kết quả từ mô hình trọng lực mở rộng cho thấy rằng hiệp định thương mại tự do dẫn đến thương mại song phương cao hơn đáng kể giữa ASEAN và Trung Quốc, nhiều hơn so với mô hình trọng lực thông thường dự đoán. Sự gia tăng tập trung ở các nước ASEAN với mối liên kết công nghiệp mạnh hơn với Trung Quốc.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-04)

  • Trong bài báo này, tác giả đề nghị rằng việc sử dụng số liệu thống kê thương mại được tính kết hợp với dữ liệu Kinh doanh là hữu ích trong việc hiểu tổng thể cũng như chi tiết thương mại cấp chi tiết. Hai yếu tố này có thể được coi là các chỉ số thay thế về hiệu quả thương mại, bởi vì cả hai chỉ số đều cải thiện khi giao dịch thương mại được sắp xếp hợp lý. Hơn nữa, bằng cách sử dụng thống kê thương mại, các tác giả có thể tính toán không chỉ chi phí thương mại dài hạn mà còn chi phí thương mại cho từng nhóm hàng hóa. Dựa trên chi phí thương mại cấp hàng hóa, các chính sách hỗ trợ thương mại cụ thể hơn nhắm vào các lĩnh vực cụ thể có thể được phát triển.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-03)

  • Như đã chứng kiến trong cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997/98, sự phụ thuộc vào vốn nước ngoài ngắn hạn cho đầu tư dài hạn khiến khu vực này dễ bị tổn thương trước sự đảo chiều đột ngột của dòng vốn. Dòng vốn nhanh chóng không chỉ gây ra sự sụp đổ của hệ thống tài chính mà còn là sự co rút kinh tế mạnh khiến hàng triệu công dân rơi xuống dưới mức nghèo khổ.Để giảm thiểu rủi ro liên quan đến sự dừng đột ngột của dòng vốn, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc - được gọi chung là ASEAN + 3 — đã cùng nhau phát triển thị trường trái phiếu nội tệ nhằm huy động tiết kiệm trong nước để đầu tư dài hạn và tăng cường khả năng phục hồi ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-4)

  • Bài viết trả lời câu hỏi “Tại sao trong suốt khủng hoảng nhập khẩu giảm hơn xuất khẩu?” thông qua một đặc điểm kỹ thuật nhập khẩu tiêu chuẩn được tăng cường với sự khác biệt và tác động thay đổi theo thời gian của từng thành phần của tổng cầu: tiêu thụ, đầu tư, chi tiêu chính phủ và xuất khẩu. Một số biến quan trọng trong việc giải thích nhu cầu nhập khẩu như điều kiện tín dụng và kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng cũng được tính đến. Kết quả cho thấy cường độ nhập khẩu của xuất khẩu là cao nhất trong số tất cả các biến. Tuy nhiên, nó không góp phần vào một sự sụt giảm lớn hơn trong nhập khẩu. Sự sụt giảm lớn hơn trong nhập khẩu sẽ là hiển nhiên nếu các thành phần khác của tổng cầu ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2012-01)

  • Bài viết này so sánh sự phụ thuộc lẫn nhau về thương mại của các tập hợp các quốc gia Châu Á khác nhau bằng cách sử dụng các chỉ số khác nhau. Đối với hội nhập theo luật định (ký kết các hiệp định thương mại tự do [FTA]), số lượng FTA đã ký kết ở châu Á đang gia tăng nhưng mối quan hệ giữa phụ thuộc lẫn nhau giữa thương mại và việc ký FTA chưa được nghiên cứu đầy đủ. Phần thứ hai của bài viết này đề cập đến việc hội nhập thương mại theo luật định cuối cùng được đưa ra bởi hội nhập thương mại thực tế cấp cao hay cấp thấp.