*Use filters to refine the search results.

Search


Item hits:
  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2011-03)

  • Mở rộng thương mại với Bộ ba đại gia kinh tế của Đông Á - Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC), Nhật Bản và Hàn Quốc - cung cấp một nguồn tăng trưởng tiềm năng mới cho ASEAN trong giai đoạn khủng hoảng và hậu khủng hoảng. Trên thực tế, ASEAN đã tích cực theo đuổi tự do hóa thương mại với Bộ ba. Mục tiêu chính của bài viết này là đánh giá định tính và định lượng các hoán vị khác nhau của các hiệp định thương mại tự do (FTA) của ASEAN với Bộ ba (ví dụ, ASEAN – Trung Quốc, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN - Hàn Quốc và ASEAN + 3). Phân tích định tính dựa trên lý thuyết hội nhập kinh tế, và phân tích định lượng dựa trên mô hình CGE. Hai loại phân tích đều gợi ý rằng một FTA ASEAN + 3 sẽ mang lại nhữn...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2011-02)

  • Sau khi xem xét nền tảng cho các cuộc họp thượng đỉnh G20 sau cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu gần đây, bài viết này nhằm xác định chương trình thương mại đại diện cho mối quan tâm của Châu Á đối với hệ thống thương mại toàn cầu và khu vực. Châu Á, đặc biệt là Đông Á, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển mạng lưới sản xuất và thương mại toàn cầu. Mạng lưới sản xuất khu vực ở Đông Á trở thành cơ chế truyền tải chính của cuộc khủng hoảng, dẫn đến sự sụp đổ thương mại, nhưng châu Á đã trải qua một sự phục hồi tương đối nhanh chóng, chứng minh rằng mạng lưới của nó không bị trật bánh. Các nền kinh tế châu Á cũng đã chuyển trọng tâm chính sách từ chủ nghĩa đa ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-03)

  • Trong bài viết này, các tác giả mô tả các khái niệm và công cụ đằng sau giám sát vĩ mô, và tầm quan trọng ngày càng tăng của các công cụ vĩ mô để đánh giá tính ổn định của hệ thống tài chính. Sử dụng dữ liệu từ các nền kinh tế đang phát triển ở châu Á, Nam Mỹ và châu Âu, cũng như các nền kinh tế được lựa chọn từ các nước phát triển, họ cũng định lượng tác động của các ảnh hưởng lớn đến các chỉ số chính về tài chính, thu nhập và lợi nhuận.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-03)

  • Trong bài viết, các tác giả phát triển một khuôn khổ phương pháp luận để giúp giám sát ngân hàng dự đoán các vấn đề cuối cùng và giảm nhẹ các hành động ngay từ giai đoạn đầu. Họ phát triển một đề xuất áp dụng cho các hệ thống ngân hàng nói chung để hỗ trợ theo dõi hệ thống và đề xuất một phương pháp cụ thể để phát hiện sớm các vấn đề đối với các thực thể riêng lẻ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phòng ngừa và tránh rủi ro lây lan.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-04)

  • Trong khi sự cởi mở thương mại là một dấu hiệu nổi bật của mô hình tăng trưởng châu Á, một thành phần khác của mô hình là chiến lược nhảy vọt - sử dụng các chính sách để hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu công nghiệp trước yếu tố ưu đãi của một quốc gia. Chiến lược nhảy vọt có hiệu quả không? Ý kiến khác nhau nhưng bằng chứng là khan hiếm một phần vì nó là khó khăn hơn để đo mức độ nhảy vọt hơn mức độ mở cửa thương mại. Các tác giả thực hiện một cái nhìn có hệ thống các bằng chứng trên cả các quốc gia và tiểu vùng trong một nền kinh tế khu vực châu Á lớn để đánh giá hiệu quả của một chiến lược như vậy. Và kết luận không có bằng chứng mạnh mẽ rằng chiến lược này hoạt động đáng tin cậy.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-04)

  • Mục tiêu của bài báo này là cung cấp các sự kiện về sự phục hồi từ suy thoái kinh tế và đánh giá vai trò của các chính sách kinh tế vĩ mô trong việc thúc đẩy phục hồi. Đặc biệt, chúng tôi khảo sát tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và suy thoái tài chính (giảm tín dụng và giảm giá cổ phiếu) bằng dữ liệu từ 21 nền kinh tế hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) và 21 nền kinh tế châu Á đang phát triển. Các tác giả chỉ ra rằng sự phục hồi từ suy thoái GDP ở các nền kinh tế châu Á chậm hơn so với các nền kinh tế OECD. Tuy nhiên, sự phục hồi từ suy thoái tài chính không khác nhiều giữa các nền kinh tế châu Á và OECD. Nền kinh tế OECD hoạt động tích cực hơn và hiệu quả hơn trong việc sử dụng các ch...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-04)

  • Trong bài viết này, các tác giả điều tra hành vi hậu khủng hoảng của sản lượng tiềm năng ở các nền kinh tế Đông Á mới nổi bằng cách sử dụng mô hình Markov-switching để giải thích cho sự phá vỡ cấu trúc. Kết quả cho thấy sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998, sản lượng tiềm năng ở Hồng Kông, Trung Quốc; Hàn Quốc; Singapore; và Malaysia trở lại mức phù hợp với xu hướng trước khủng hoảng. Ước lượng kinh tế của một mô hình tăng trưởng đơn giản cho thấy sự khác biệt giữa các mô hình phục hồi sau khủng hoảng có thể là do tỷ lệ đầu tư trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP); chính sách kinh tế vĩ mô; hành vi tỷ giá hối đoái; và năng suất. Những kết quả này có thể được sử dụng để hướng dẫ...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2010-04)

  • Trong bài báo này, các tác giả sử dụng dữ liệu bảng gồm 96 quốc gia và bao gồm giai đoạn 1960–2000 để điều tra các tác động của các hiệp định thương mại tự do (FTA) và hệ thống hub- spoke của FTA vào xuất khẩu. Kết quả thực nghiệm của họ cho thấy tốc độ tăng trưởng hàng năm là 5,57% trong xuất khẩu, dẫn đến tăng gấp đôi xuất khẩu sau 12,4 năm, giữa các đối tác FTA. Các FTA không chồng chéo chiếm 4.12%, trong khi các tài khoản FTA hub- spoke chiếm khoảng 1.45% tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ước tính. Điều này chỉ ra rằng ngoài tác động tự do hóa thương mại trực tiếp của FTA, bản chất hub-spoke của FTA có tác động tích cực hơn đối với thương mại.

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2006-08-01)

  • Bài viết này đặt câu hỏi châu Á nên làm thế nào để chuẩn bị cho việc điều chỉnh những rối loạn do mất cân đối toàn cầu. Và khuyến nghị thắt chặt chính sách tiền tệ và cho phép các đồng tiền châu Á tăng giá như một cách để đạt được sự cân bằng tốt hơn giữa nhu cầu nội bộ và bên ngoài. Quan sát này cho thấy rõ ràng rằng một nỗ lực để ngăn chặn các phong trào tỷ giá nội Á sẽ là phản tác dụng trong bối cảnh này. Các biện pháp chính sách khác tạo ra hiệu ứng trên các chân trời dài hơn có thể góp phần vào việc luân chuyển nhu cầu tránh xa xuất khẩu sang Hoa Kỳ bao gồm phát triển thị trường tài chính châu Á và hoàn thành khu vực thương mại tự do châu Á. Những điều chỉnh chính sách này sẽ xảy...

  • Chuyên đề nghiên cứu


  •  (2014-11)

  • Những tiến bộ trong công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) đã mở rộng khả năng thương mại dịch vụ hiện đại và nhiều nền kinh tế mới nổi và phát triển của châu Á tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động thương mại mới này.Bài viết này xem xét các hoạt động xuất khẩu của các nền kinh tế Châu Á mới nổi và đang phát triển trong các dịch vụ hiện đại. Qua ước tính cho thấy rằng các kết quả từ các nền kinh tế mới nổi ở Nam Á và ASEAN, xét về tiềm năng xuất khẩu, yếu hơn đáng kể so với các nền kinh tế phát triển ở Bắc Mỹ và Châu Âu. Điều này cho thấy các nền kinh tế mới nổi cần phải loại bỏ các ràng buộc “phía sau biên giới” và áp dụng các công nghệ hiện đại để bắt kịp các nước phát triể...